Nữ Giới Cần Biết -1

1 12 2006

1. Nữ giới có những đặc điểm sinh lý gì?
Sự hoạt động của nội tạng cơ thể người, nam nữ cơ bản giống nhau, nhưng về hệ thống sinh dục mà nói, nam nữ có sự khác nhau rõ ràng. Trước hết về giải phẫu, nữ giới có tử cung, ống dẫn trứng và buồng trứng (hai cái sau cũng gọi là phần phụ) mà nam giới không có. Trong đó, tử cung là một bộ máy sinh dục quan trọng. Tử cung bình thường có hình dạng như quả lê lộn ngược hơi dẹt trước sau, nằm ở chính giữa bụng dưới, phía trước là bàng quang, phía sau là trực tràng, đầu dưới thông với âm đạo, nó có thể sản sinh kinh nguyệt, mang thai, đồng thời là cơ quan trọng yếu sinh ra thai nhi, ống dẫn chứng là hai đường ống dẫn nhỏ cong, bắt đầu từ hai góc tử cung, thông với khoang tử cung, đầu ngoài tự do di động tách ra, cửa thông với khoang hình phễu là nơi tinh trùng và trứng kết hợp với nhau, rồi dẫn trứng hoặc trứng đã thụ tinh đến khoang tử cung.
Buồng trứng nằm ở hai bên phải trái, có hình bầu dục dẹt, là bộ máy sinh dục của nữ giới, có thể sản sinh ra trứng và chất kích thích, không chỉ quan hệ đến kinh nguyệt, thai ngén, đồng thời có quan hệ mật thiết đến nội tiết của thân thể.
Về sinh lý, nữ giới khác nam giới ở chỗ có kinh nguyệt, rụng trứng, mang thai, sinh con và nuôi con bằng sữa. Nói chung, con gái khoảng 14 tuổi thì bắt đầu có kinh nguyệt, khoảng cách của ngày thứ nhất giữa hai lần kinh nguyệt được gọi là một chu kỳ kinh nguyệt, nói chung là từ 28 đến 30 ngày; mỗi lần kinh nguyệt ra từ 3 đến 5 ngày; lượng kinh mỗi ngày hành kinh trung bình là 50 mi, ít thì có 10 – 20 ml, nhiều thì 100 ml, máu kinh nguyệt không đông, hơi có mùi tanh, màu sắc nói chung đỏ sẫm.
Trước và sau khi có kinh nguyệt, phụ nữ thường cảm thấy vú nở ra, chân tay mỏi, ăn uống không ngon, tinh thần khó chịu hoặc kích động, đây là hiện tượng sinh lý bình thường. Những thay đổi sinh lý mang tính chu kỳ này của nữ giới, là kết quả của nội tiết tố buồng trứng tác động vào cơ thể.
Trứng rụng cũng là một đặc điểm sinh lý của nữ giới, vào khoảng từ ngày thứ 14 đến ngày thứ 16 của chu kỳ kinh nguyệt, thường mỗi tháng chỉ có một trứng chín, hai buồng trứng thay nhau rụng trứng, cũng có thể do một bên buồng trứng liên tục rụng trứng, trứng rụng tạo điều kiện để thụ thai. Sau khi có kinh nguyệt thì có khả năng sinh con, khi nam nữ giao hợp nhau, trứng thụ tinh, bắt đầu mang thai. Về mặt lâm sàng lấy 28 ngày làm một tháng thai ngén, thời kỳ thai ngén kéo dài 10 tháng tất cả là 40 tuần lễ.
Trong cả kỳ thai ngén, về mặt sinh lý nữ giới có hàng loạt thay đổi. Hệ thống sinh dục chủ yếu lấy tử cung làm chính, không những thể tích tử cung tăng lên, mà hình dạng cũng thay đổi không ngừng, từ hình quả lê dẹt biến thành hình cầu, sau khi mang thai 3 tháng, lại từng bước kéo dài thành hình bầu dục. Vú cũng dần dần lớn thêm, núm vú cũng thâm dần.
Thời kỳ cuối mang thai, vú có ngậm sữa non. Đồng thời với sự biến đổi của hệ thống sinh dục, sự biến đổi của các hệ thống toàn thân cũng rất rõ ràng, gánh nặng của quả tim tăng lên, cho nên tim thường có độ nhẹ to mập; do sự gia tăng của dung lượng máu vượt quá mức gia tăng của số tế bào máu, do vậy dẫn đến thiếu máu mang tính sinh lý rõ ràng. Khả năng bài tiết của thận cũng có thay đổi. Chủ yếu biểu hiện ở chỗ đái nhiều và có bệnh đái albumin hoặc đái đường mang tính sinh lý. Thậm chí khớp xương và dây chằng trở nên nhão, mềm! Giúp cho mức độ hoạt động tăng lên và đường kính xương chậu tăng lớn, có lợi cho việc sinh con.
Đến thời kỳ sau khi sinh con, tức là thời gian từ khi nhau thai ra đến lúc bộ máy sinh dục khôi phục nguyên trạng, nói chung 6 đến 8 tuần lễ. Trong giai đoạn này, đại đa số sản phụ cảm thấy mệt mỏi cần được nghỉ ngơi, mồ hôi ra nhiều, có những sản phụ nóng sốt trong vòng 24 tiếng đồng hồ, nhưng nhiệt độ cơ thể phần nhiều dưới 38oC. Trong âm đạo tiết ra thứ nước như nước ối ngày càng nhiều trong 3 ngày đạt tới đỉnh cao, nước có màu hồng tươi, sau đó nước giảm dần, màu sắc cũng biến nhạt dần, nói chung nước ra kéo dài khoảng 20 ngày. Sản phụ sau khi sinh con do tử cung co lại có thể gây nên đau ở vùng bụng, gọi là co thắt. Triệu chứng đau này từ 3 đến 4 ngày rồi tự nhiên hết đau.
Sau khi sinh con 2 đến 3 ngày, vú to ra và trở nên cứng, nhiệt độ cơ thể có lúc cũng tăng cao, và bắt đầu có sữa non chảy ra, lúc này cảm thấy vú căng và đau, nhưng cho con bú sẽ nhanh chóng hết đau. Sữa của người mẹ lúc đầu có màu trắng ngà, sau chuyển thành trắng. Trong thời gian cho con bú, nói chung kinh nguyệt ngừng, chỉ có cá biệt một số phụ nữ còn có kinh nguyệt. Qua thời kỳ sau khi sinh con 6 đến 8 tuần lễ là cơ bản khôi phục trạng thái trước khi mang thai.
Từ những điều tóm tắt nêu trên, có thể thấy rằng đặc điểm sinh lý của phụ nữ là rất phức tạp, hiểu biết những đặc điểm này để giữ gìn vệ sinh, bảo đảm sức khỏe phụ nữ là điều rất cần thiết và bổ ích.
2. Đời sống sinh lý nữ giới chia làm mấy giai đoạn? Có đặc điểm gì?
Nữ giới từ khi sinh ra đến lúc già, là một quá trình tiệm tiến. Nói chung, có thể chia làm 5 giai đoạn: thời kỳ niên thiếu, thời kỳ dậy thì, thời kỳ trưởng thành, thời kỳ mãn kinh, thời kỳ già, nhưng không có ranh giới rõ ràng. Tuổi tác của các giai đoạn, do ảnh hưởng của các yếu tố như di truyền, tình hình phát dục, môi trường và khí hậu xung quanh, tình hình dinh dưỡng… mà có đôi chút khác biệt.
1.Thời thiếu niên
Từ mới sinh đến 12 tuổi thì trước 7 tuổi là giai đoạn đầu của thời niên thiếu, sau 7 tuổi là giai đoạn cuối của thời niên thiếu. Giai đoạn đầu của thời niên thiếu, thân thể phát triển khá nhanh, nhưng bộ máy sinh dục chưa phát dục. Âm đạo dài hẹp, thường bị mỏng, không có nếp gấp, trong tế bào không có đường Glucose, trong âm đạo độ acid thấp, sức chống cảm nhiễm yếu. Tử cung rất nhỏ, buồng trứng dài mảnh, noãn bào cũng không phát dục, con trai con gái ngoài bộ máy sinh dục ra, các mặt khác không phân biệt là mấy.
Giai đoạn cuối của thời niên thiếu, tuyến nội tiết bắt đầu hoạt động, xúc tiến xu hướng phân hóa giới tính và sự trưởng thành. Thân thể phát triển khá nhanh, bộ máy sinh dục dần dần phát dục. Bắt đầu từ 10 tuổi, các cơ quan sinh dục như tử cung, ống dẫn trứng, buồng trứng… vốn ở khoang bụng, đã sa xuống trong khoang xương chậu. Buồng trứng biến thành hình tròn, to hơn trước, noãn bào cũng dần dần phát dục, nhưng không chia tách. Đặc trưng nữ giới cũng rõ dần. Lớp mỡ dưới da bắt đầu tích tụ dần ở ngực, vai, hông làm cho các bộ phận này căng phồng lên. Do buồng trứng phát dục dần, nội tiết tố tăng nhiều, vú cũng bắt đầu phát dục, bầu vú rắn lại và cảm giác hơi sưng đau. Sau đó chuyển sang thời kỳ dậy thì.
2. Thời kỳ dậy thì
Từ khi xuất hiện kinh nguyệt đến khi bộ máy sinh dục phát triển đầy đủ, quãng thời gian này gọi là thời kỳ dậy thì, nói chung là từ 13 đến 18 tuổi. Đặc điểm sinh lý của thời kỳ này là cùng với việc cả cơ thể lớn lên nhanh chóng, quá độ đi dần tới sự hoàn thiện, bộ máy sinh dục và đặc trưng giới tính cũng phát triển rõ nét.
Về bộ máy sinh dục, âm hộ bắt đầu to ra, môi lớn của âm hộ trước kia vốn phẳng lì nay trở nên béo ra và dày lên, môi nhỏ của âm hộ cũng to ra và có màu thâm, âm đạo dài và rộng hơn, màng âm đạo dày lên và có nếp gấp; tử cung phát triển to, đặc biệt là thân tử cung to lên rất nhiều, chiếm 2/3 toàn bộ tử cung; ống dẫn trứng cũng to hơn, đỡ cong; buồng trứng lớn lên rõ rệt và bắt đầu có nang noãn chín, đến lúc đó thì kinh nguyệt xuất hiện.
Sự xuất hiện kinh nguyệt là cái mốc quan trọng đánh dấu sự bắt đầu của thời kỳ dậy thì. Nhưng do chức năng của buồng trứng vẫn chưa được kiện toàn, nên sau khi thấy kinh lần đầu tiên, kinh nguyệt còn thất thường trong một giai đoạn nữa. Về đặc trưng giới tính, bầu vú phát triển rõ hơn, núm vú to; xương chậu lớn rộng hơn, lớp mỡ dưới da dầy lên, các bộ phận như mông, ngực, vai… trở nên tròn, đẫy, khiến cơ thể nổi rõ dáng vẻ riêng biệt của nữ giới. Ngoài những điều đó ra, tính cách của nữ tính cũng nổi rõ hơn; mọi hành động, ham thích và tình cảm… đều khác nam giới.
3. Thời kỳ trưởng thành
Thường bắt đầu từ tuổi 18, cũng có thể kéo dài đến 30 tuổi. Trong thời kỳ này, bộ máy sinh dục của nữ giới trưởng thành hoàn toàn đầy đủ, đặc trưng nữ giới phát triển rõ hơn. Cũng trong thời kỳ này buồng trứng đã đi vào giai đoạn rụng trứng và nội tiết tố Estrogen (chất kích thích giới tính) theo một chu kỳ nhất định.
Các bộ phận của bộ máy sinh dục và cặp vú, thậm chí toàn bộ cơ thể đều có những thay đổi mang tính chu kỳ. Chu kỳ này được gọi là chu kỳ giới tính. Cái rõ nhất của chu kỳ giới tính là kinh nguyệt xuất hiện theo định kỳ thời gian, và có trách nhiệm sinh ra thế hệ sau. Đặc điểm trong khoảng 25 đến 35 tuổi là độ tuổi có khả năng sinh con mạnh nhất, sau đó thì yếu dần.
4. Thời kỳ tuổi mãn kinh
Đây là giai đoạn quá độ từ thời kỳ trưởng thành về giới tính bước vào tuổi già, là một thời kỳ quá độ mà chức năng buồng trứng của người phụ nữ suy thoái dần cho đến hết, biểu hiện rõ nhất là tắt kinh. Người phụ nữ thường tắt kinh ở độ tuổi 45 đến 52 tuổi, tuổi bình quân là 48 tuổi. Độ dài ngắn của thời kỳ không giống nhau, có thể từ mấy tháng đến mấy năm. Trong thời gian đó, chức năng của buồng trứng giảm dần, nang noãn không thể phát triển thành trứng chín, cũng không rụng trứng.
Đại đa số phụ nữ, do chức năng của buồng trứng suy giảm dần, hệ thống thần kinh thực vật của cơ thể có thể điều tiết và làm thay chức năng, mà không bị chứng bệnh gì. Nhưng có khoảng 10 đến 30% phụ nữ do không thể thích nghi được mà bị rối loạn chức năng thần kinh thực vật, mắc các hiện tượng tổng hợp của thời kỳ tuổi mãn kinh.
5. Tuổi già
Bắt đầu từ tuổi 50 đến tuổi 55, là giai đoạn buồng trứng mất tác dụng và mọi hiệu năng nội tiết của cơ thể nhìn chung đều hạ thấp xuống: Lúc này tử cung tóp lại, buồng trứng teo nhỏ không thể có hành kinh nữa, nếp gấp trong màng âm đạo biến mất, vú xệ xuống. Đồng thời cơ thể cũng có những thay đổi có tính già lão, chẳng hạn như lông tóc ngả bạc, lớp mỡ dưới da không còn, da dẻ không còn căng như trước và bắt đầu nhăn nheo, răng bắt đầu rụng, có người còn còng lưng, biểu hiện ra một loạt đặc trưng của sự già yếu.

3. Hệ thống sinh dục của nữ giới gồm những bộ phận nào ?
Hệ thống sinh dục của nữ giới gồm có hai bộ phận trong và ngoài.
a. Bộ máy sinh dục ngoài
Bộ máy sinh dục ngoài còn được gọi là âm hộ, là bộ phận lộ ra bên ngoài của bộ máy sinh dục nữ, bao gồm vùng mu, môi lớn môi bé, âm vật, tiền đình, tuyến lớn tiền đình và màng trinh… Một đệm tổ chức mỡ dày lên ở phía trên khớp mu, sau khi dậy thì lông mọc lên che phủ trên bề mặt, gọi là vùng mu. Do vùng mu kéo dài xuống phía dưới, tạo thành hai nếp gấp to của da và mỡ ở phía trong háng, gọi là môi lớn. Khi ở trong trạng thái không hưng phấn, hai môi lớn khép lại, có tác dụng bảo vệ âm đạo và niệu đạo. Môi nhỏ là hai nếp gấp da màu phấn hông ở phía trong môi lớn, ở đây phân bố rất nhiều dây thần kinh, khá nhạy cảm.
Ở phụ nữ chưa kết hôn thì môi nhỏ khép lại, có tác dụng bảo vệ âm đạo và bộ máy sinh dục bên trong cơ thể, ở đầu trên giữa hai môi nhỏ, có một bộ phận nhô lên cương cứng và xốp dạng như hạt đậu to, có nhiều dây thần kinh, rất nhạy cảm, hưng phấn mạnh về giới tính, là bộ phận quan trọng gây ra những hưng phấn giới tính. Vùng có hình quả trám nằm giữa hai môi bé được gọi là tiền đình. Phía trước là âm vật, phía sau là dây chằng âm vật. Trong vùng này còn có lỗ niệu đạo, lỗ âm đạo và tuyến lớn tiền đình (còn gọi là tuyến Bartholin). Tuyến lớn tiền đình nằm ở đằng sau môi lớn, phân bố ở hai bên, có lỗ thông vào khoảng giữa môi bé và màng trinh, bằng hạt đậu, khi giao hợp tiết ra chất dính nhầy, có tác dụng bôi trơn cửa âm đạo. Ở chỗ giáp ranh giữa cửa âm đạo và tiền đình, có một lớp màng mỏng hình tròn hoặc hình bán nguyệt có một lỗ nhỏ ở giữa gọi là màng trinh. Sau khi kết hôn, màng trinh bị phá rách mà tạo thành vết rách của màng trinh. Cũng có những nữ thanh niên chưa giao hợp lần nào nhưng do hoạt động quá mạnh và bị ngoại thương mà cũng rách màng trinh.
b. Bộ máy sinh dục trong
Bộ máy sinh dục trong là bộ phận nội tạng của bộ máy sinh dục, bao gồm âm đạo, tử cung, ống dẫn trứng và buồng trứng. Âm đạo là một ống cơ đi từ bộ phận sinh dục ngoài vào tới tử cung. Đầu dưới thông với phía sau tiền đình của âm đạo, đầu trên bọc xung quanh cổ tử cung, thành trước dài khoảng 7 đến 9 cm, thành sau dài khoảng 10 đến 12 cm. Thành âm đạo có rất nhiều nếp gấp và các sợi dây dọc có sức đàn hồi nên có sức co giãn rất lớn. Thành âm đạo lại có nhiều chùm tĩnh mạch, nên khi bị tổn thương cục bộ thì dễ chảy máu hoặc tụ máu. Màng nhày của âm đạo chịu ảnh hưởng của nội tiết tố oestrogen, nhưng lại thay đổi mang tính chu kỳ. Khi giao hợp, các mạch máu xung quanh âm đạo được xung nạp dồi dào, chất nhầy tiết ra làm trơn âm đạo. Âm đạo là ống dẫn tinh trùng vào, thoát máu hành kinh ra ngoài và sinh ra thai nhi, và cũng là bộ phận giao hợp.
Tử cung là một khoang cơ rỗng, nằm lọt giữa khoang chậu có hình giống quả lê đặt ngược, phần đầu dưới nhỏ hẹp là cổ tử cung, thông với âm đạo. Phần đầu trên to dày gọi là đáy tử cung, đoạn giữa là thân tử cung, hai sừng tử cung ở hai bên thông với ống dẫn trứng. Chiều dài tử cung của người thành niên vào khoảng 7,5 cm rộng 5 cm, dày 2,5 cm, nặng khoảng 50 gam. Bề mặt phía trong của khoang tử cung có một lớp màng nhầy, gọi là niêm mạc tử cung. Do ảnh hưởng chất kích thích của buồng trứng, niêm mạc tử cung biến đổi theo chu kỳ, tự bong ra thành kinh nguyệt. Cho nên nói, tử cung là nơi sinh ra kinh nguyệt và mang thai cho đến khi thai lớn đủ tháng đủ ngày, ống dẫn trứng (hay còn gọi là vòi Fallôpe) là một cặp đường ống nhỏ dài mà cong, đầu trong thông với tử cung, đầu ngoài tự do di động, có vòi thông với khoang hình phễu, gần với buồng trứng, ống dài khoảng 8 đến 12 cm. Vai trò của ống dẫn trứng là nhận trứng rụng từ buồng trứng, giúp trứng có cơ hội thụ tinh và đưa trứng vào làm tổ trong khoang tử cung.
Buồng trứng nằm ở mặt sau của dây chằng rộng treo hai bên tử cung, có hình dạng giống như quả chà là (tức là hình bầu dục dẹt) ở đầu dưới của ống dẫn trứng. Buồng trứng là tuyến sinh dục của nữ. Tuy nó không nặng đến 5 hoặc 6 gam, nhưng lại là nơi sản sinh ra tế bào trứng và tiết ra nội tiết tố oestrogen. Hoạt động bình thường của buồng trứng có quan hệ tới chức năng sinh con và sinh lý của cuộc đời phụ nữ.
4. Có những dị tật gì thường thấy ở âm hộ và âm đạo?
Âm hộ và âm đạo là bộ phận cấu thành bộ máy sinh dục nữ, những dị tật người ta thường thấy ở chúng là: màng trinh đóng kín, vách ngăn ngang âm đạo, vách ngăn dọc âm đạo và không có đường âm đạo bẩm sinh…
Thông thường, màng trinh nữ có một lỗ nhỏ ở giữa, lỗ có hình tròn hoặc hình bán nguyệt, hoặc hình cánh hoa. Nếu lỗ màng trinh quá nhỏ hoặc tạo thành dạng xốp thì không những máu hành kinh khó thoát ra ngoài mà thường gây khó khăn cho việc giao hợp sau khi cưới. Màng trinh đóng kín, được gọi là màng trinh không có lỗ, tục ngữ gọi là “thạch nữ” (tức “cô gái rắn như đá”), là một dạng dị tật thường thấy của bộ máy sinh dục.
Do màng trinh bít kín cửa âm đạo, sau khi có hành kinh lần đầu tiên, máu kinh không thể thoát ra ngoài, mà tích lại trong tử cung. Nếu máu tích quá nhiều có thể chảy vào buồng trứng và chảy vào ổ bụng. Những cô gái bị tật này đều không thấy hành kinh khi dậy thì, sau đó dần dần xuất hiện tình trạng thấy đau ở bụng dưới, theo chu kỳ mỗi tháng và cùng với sự chuyển dời của thời gian, bụng dưới không những càng ngày càng đau dữ dội thậm chí còn nổi cục, hơn nữa còn kèm theo những triệu chứng như toàn thân khó chịu, đau đầu, bí tiện (bí đại tiện), đi đái liên tục…
Khi bác sĩ kiểm tra, có thể phát hiện thấy bộ phận màng trinh là một màng dày có màu tím thẫm, chọc thủng màng trinh có thể hút ra dung dịch máu có màu nâu sẫm hoặc màu đen đóng kín cũng không thể sinh hoạt tình dục được. Khi phát hiện thấy các tình trạng nêu trên đi đến bệnh viện đề nghị bác sĩ rạch màng trinh theo hình “X”.
Trên lâm sàng vách ngăn của âm đạo cũng là một trường hợp ngẫu nhiên, phần lớn nằm ở đoạn trên của âm đạo. Nếu vị trí vách ngăn ngang hơi thấp, phạm vi tương đối rộng, có thể làm cho âm đạo bị đóng kín hoặc đóng kín một phần, vì thế ảnh hưởng đến việc giao hợp, và có thể xuất hiện những triệu chứng tương tự như màng trinh bị bịt kín.
Còn nếu vị trí vách ngăn ngang hơi cao, mà vách ngăn của âm đạo lại có lỗ, thì thường không có triệu chứng gì và có thể có thai được, nhưng khi sinh con có thể làm ảnh hưởng đến việc thoát ra của thai nhi, gây sinh con khó.
Còn về trường hợp vách ngăn dọc của âm đạo, thường hình thành hai âm đạo (âm đạo kép) ở một chỗ hoặc ở suốt cả âm đạo, tử cung cũng có thể có hai tử cung. Có lúc vách ngăn dọc của âm đạo có thể gây khó khăn cho việc sinh con hoặc bị rách chảy máu. Đối với hai dị tật này của âm đạo, dùng phẫu thuật cắt bỏ vách ngăn ngang hoặc vách ngăn dọc là biện pháp chữa trị duy nhất.
Còn đối với những người không có đường âm đạo bẩm sinh, thường đồng thời không có tử cung hoặc tử cung quá nhỏ. Nếu tử cung phát dục bình thường, thì kinh nguyệt không chảy ra nổi, vì máu tích lại trong tử cung, có thể gây nên đau bụng dưới.
Nếu việc tử cung phát dục bất thường, phần lớn do không có kinh nguyệt hoặc không có cách nào làm tình được thì cần tiến hành thăm khám, đa số là áp dụng cách chữa phẫu thuật tạo hình âm đạo.
6. Tử cung hay có những dị tật gì?
Tử cung là nơi sinh ra kinh nguyệt, mang thai và cũng là cơ quan quan trọng để sinh con. Tử cung phát triển bất bình thường không những gây nhiều ảnh hưởng về sinh lý cho phụ nữ mà có khi còn là nguyên nhân gây nên tình trạng không có con. Vậy thì, tử cung thường có những dị tật gì? Có thể chia ra làm hai loại:
Một là tử cung phát triển thiếu, trường hợp này gồm:
1. Không có tử cung bẩm sinh: Đa số những người mắc bệnh này thường kèm theo cả không có âm đạo, nhưng buồng trứng vẫn phát triển bình thường vì vậy đặc trưng giới tính vẫn phát triển tốt.
2. Tử cung teo nhỏ: Tử cung rất nhỏ, chỉ từ 1 đến 3 cm, phần lớn không có niêm mạc, vì thế không có kinh nguyệt.
3. Tử cung phát triển không hoàn thiện: Tức tử cung nhỏ hơn bình thường, cổ tử cung lại dài, lượng kinh nguyệt ít, thường là nguyên nhân gây nên tình trạng không thụ thai.
Hai là tử cung không phát triển thừa, bao gồm:
1. Tử cung kép: Tức có hai tử cung cùng tồn tại.
2. Hai cổ tử cung: Tức đáy tử cung lõm xuống, tạo thành hình hai sừng, đồng thời có hai cổ tử cung.
3. Tử cung hai sừng, một cổ tử cung: Tức chỉ tử cung có hai sừng, nhưng chỉ có một cổ tử cung.
4. Tử cung có vách ngăn dọc: Hình dáng bên ngoài của tử cung bình thường, nhưng có một vách ngăn dọc chia cổ tử cung và khoang tử cung ra làm hai nửa.
5. Tử cung một sừng: Tử cung chỉ phát triển một sừng về một phía, tử cung chỉ có một ống dẫn trứng, còn một ống không phát triển.
6. Tử cung có sừng phụ: Tức sừng tử cung ở một bên phát triển thêm một sừng phụ dị dạng, tử cung sừng phụ này không thông với tử cung.
Do những dị tật này của tử cung, thường làm cho kinh nguyệt thất thường hoặc dẫn đến vô sinh, dù có thai nghén cũng dễ bị sảy. Nếu thai nhi có trưởng thành đầy đủ thì do hình dáng đặc thù của tử cung, sức co bóp của tử cung kém, nên thai bị ngược hoặc tỷ lệ thai lưu, không ra được khá cao.
7. Vì sao buồng trứng phát triển không đầy đủ?
Sự phát triển không hoàn chỉnh của buồng trứng là nguyên nhân thường gặp của chứng vô sinh ở nữ giới, dẫn đến chứng bệnh buồng trứng không thực hiện đầy đủ chức năng do sự phát triển của nó bị cản trở. Chẳng hạn như mất sự điều hòa cân bằng giữa khâu não – tuyến yên – buồng trứng, u tuyến yên, các chất dinh dưỡng cao không tốt, có bệnh mãn tính (như kết hạch), bị hết bệnh này sang bệnh khác (ví dụ như chức năng tuyến giáp trạng bị giảm đi hoặc quá mức bình thường, bệnh đái đường, rối loạn chức năng tuyến thượng thận…). Tất cả đều có thể làm ảnh hưởng đến sự phát triển không bình thường của buồng trứng, thậm chí gây trở ngại cho chức năng của tuyến sinh dục. Ngoài ra, những bệnh của bản thân buồng trứng (như buồng trứng non, sớm suy giảm chức năng buồng trứng, buồng trứng đa nang, u buồng trứng) do buồng trứng không thể phát triển đầy đủ có thể gây ảnh hưởng rõ rệt đến sự bài tiết oestrogen và chức năng rụng trứng của buồng trứng.
Khi gặp phải những trường hợp trên, trước tiên phải kiểm tra nội tiết tố, thông qua kiểm tra xác định nội tiết tố oestrogen (còn gọi là chất kích thích giới tính) trong nước tiểu, phenol trong nước tiểu người có thai để tìm hiểu xem các nội tiết tố được tiết ra như thế nào, nhằm đoán ra khả năng rụng trứng của buồng trứng. Trước mắt, vẫn chưa có biện pháp trực tiếp để kiểm tra liệu buồng trứng có khả năng rụng trứng hay không, mà phải trải qua một số những quan sát gián tiếp, xác định nhiệt độ cơ thể một cách có cơ sở vẫn thường áp dụng trên lâm sàng, kiểm tra chất nhầy ở cổ tử cung, kiểm tra tổ chức sống của niêm mạc tử cung. Nếu những kiểm tra này cho thấy không có hiện tượng rụng trứng thì có thể chuẩn đoán là chức năng buồng trứng không hoàn thiện.


Actions

Information

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s




%d bloggers like this: